Lễ hội truyền thống “Từ Lương Xâm” 2015

Thứ năm - 19/03/2015 20:03

Lễ hội truyền thống “Từ Lương Xâm” (An Hải, Hải Phòng) hàng năm tổ chức từ 16 đến 18 tháng Giêng Âm lịch, tôn vinh Ngô Quyền và chiến trận Bạch Đằng lịch sử.
Đoàn rước long ngai Ngô Vương Quyền tại Lễ hội Từ Lương Xâm
Đoàn rước long ngai Ngô Vương Quyền tại Lễ hội Từ Lương Xâm

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ca ngợi chiến thắng Bạch Đằng rạng danh lịch sử:

“Mênh mông một dải Bạch Đằng,

Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh”

Trận Bạch Đằng, Ngô Quyền đã đập tan ý chí xâm lăng của phương Bắc, chấm dứt nạn ngàn năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ mới độc lập tự chủ của dân tộc. Trở thành biểu tượng chống ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi không phai mờ trong lịch sử dân tộc. Từ Lương Xâm là nơi hoài niệm, ngưỡng mộ, là nguồn cảm xúc và niềm tự hào, biết ơn với đạo nghĩa “uống nước nhớ nguồn” cho nhân dân và du khách đến thăm.

Ngày 16 tháng giêng khai hội (hàng năm. nay là 6 tháng 3 năm 2015 /Ất Mùi). Từ 5 giờ sáng chúng tôi lên đường đi dự lễ hội truyền thống Từ Lương Xâm thờ Ngô Quyền ở An Hải (Phường Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng). Đoàn gồm các ông: Ngô Minh (Ủy viên Hội đồng Ngô Tộc Việt Nam, đại diện Ngô Tộc), Nguyễn Văn Chiến (Họa sĩ – sử gia Mỹ thuật), Nguyễn Quang Hạ (Unesco Việt, Nam), Nguyễn Tất Quốc, Nguyễn Tất Công (đại diện họ Nguyễn Tất ở Ý Yên - Nam Định – và hậu duệ của tướng quân Nguyễn Tất Tố tham gia trận chiến Bạch Đằng lịch sử) hợp thành đoàn. Với thành kính LSVH tôn thờ Đức Vương  Ngô Quyền - người anh hùng dân tộc trong lòng dân đất Việt.

Chúng tôi dâng hương hoa, đồ lễ lên Tiền Ngô Vương với lòng thành kính biết ơn. Khi biết chúng tôi là đoàn Hội đồng Ngô tộc Việt Nam, và họ Nguyễn Tất về lễ đền, thắp hương cho vị Tổ của mình, ban khánh tiết nhà đền nhiệt tình đón tiếp, và giới thiệu về ngôi đền lịch sử. Chúng tôi đã chụp ảnh, ghi tài liệu nghiên cứu viết bài tôn vinh di tích LSVH.

1. Vị trí “Từ Lương Xâm”: cách trung tâm Hà Nội khoảng 120 Km. Từ trung tâm thành phố Hải Phòng, qua cảng Chùa Vẽ, đến di tích ở An Hải, phường Nam Hải, quận Hải An. Từ ngoài xa đã thấy tượng đài “Đức Vương Ngô Quyền” nổi trên nền không gian Lễ hội. Vùng đất dựng Từ Lương Xâm xưa là vùng duyên hải, gần cửa biển Bạch Đằng. Thủa xưa, Ngô Quyền chọn nơi đây làm đại bản doanh, đã cho quân đắp một thành đất trên gò cao cách cửa biển Bạch Đằng chừng 3km. Thành đắp có hình giống cái “vành kiệu”, nên dân gọi là “Thành Vành Kiệu” (1). Tại khu giữa thành xưa là làng Lương Xâm, nhân dân đã dựng hai ngôi thờ là: Từ Lương Xâm và Đình Lương Xâm thờ Ngô Vương Quyền. Cả hai đều được công nhận di tích quốc gia.

 Các làng quanh khu vực Thành xưa cũng lập: Miếu/Đền/ Đình thờ tự, hiện còn 22 di tích. Nên trong tâm thức nhân dân Nam Hải - Hải An/ Hải Phòng vẫn in đậm về Đức Vương Ngô Quyền và trận chiến Bạch Đằng lịch sử vang dội của dân tộc.  Lễ hội hàng năm của các di tích cùng trong 3 ngày (từ 16 đến 18 tháng giêng) hàng năm (dịp giỗ đức vua 18/giêng).

2.  Từ Lương Xâm Di tích Lịch sử văn hóa: Di tích có cảnh quan đẹp trên khu đất rộng, có những cây cổ thụ hàng trăm năm, tạo sự linh thiêng, cổ kính. Từ  ngoài vào trong, lần lượt có các hạng mục kiến trúc - cảnh quan, xắp xếp theo nghi thức của ngôi Điện thờ truyền thống.

Cờ hội ngũ sắc rực rỡ cắm thành hàng quanh khu di tích và theo lối vào. Bên ngoài trước cổng, là một sân rộng, và có hồ sen lớn. Một sân khấu cao, có trống Hội, và tấm pano lớn: “Lễ hội Từ lương Xâm 2015. Kỷ niệm 1077 năm chiến thắng Bạch Đằng, và 1071 năm ngày mất Đức Vương Ngô Quyền”. Đây là nơi diễn ra các hoạt động Lễ /Hội, tập hợp nhiều đoàn rước và khách hành hương.

Cổng Tam quan thứ nhất vào đền: giữa là lối đi rộng, giới hạn bởi hai trụ biểu vươn cao, ba mặt trụ có các câu đối. Hai cổng phụ hai bên cửa vòm, mái ngắn hai lớp. Cạnh hai cổng bên là hai cây đa cổ thụ. Mé ngoài là hai giếng đào từ xưa gọi là “Giếng mắt Rồng”, được truyền rằng: “Khi Ngô Quyền đóng quân ở đây, đã cho đào hai giếng này để lấy nước ăn”. Giữa là sân rộng lát gạch cho hoạt động lễ hội.

Lại qua Tam quan thứ hai, kiểu cách cũng như thế. Trong là sân chính rộng rãi. Hai bên là nhà Giải vũ (nơi ban Tổ chức đón khách ngày lễ hội). Mỗi bên có cây cổ thụ thẳng đứng vươn cao bóng mát. Bên Tả có cây Đa, bên Hữu có cây Gạo lớn. Chính giữa là khu chính của Từ Lương Xâm với các kiến trúc thờ tự.

Đó là các Kiến trúc - điêu khắc - trang trí được thể hiện lần lượt theo các hạng mục công trình của ngôi Từ Lương Xâm. Lần lượt từ ngoài vào trong gồm:

- Tòa Tiền đường 5 gian (Đây là Tiền bái). Ba gian giữa là Hương án, Long Ngai. Hoành phi trên ba gian chính. Các ban Binh khí (gỗ chạm) song hành hai bên, Câu đối trên 4 hàng cột. Hai gian phụ hai bên để giá Chiêng, giá Trống.

- Tòa Kỷ vật: Gian giữa là Kiệu bát cống. Trên đặt Thần vị, dưới đặt Bằng công nhận Di tích Quốc gia. Hai bên không lợp mái để tiếp trời, và là lối đi vào trong. Hai gian bên là Tả vu và Hữu vu. Tả vu đặt ngựa Hồng và thuyền Rồng với Long ngai); Hữu vu đặt ngựa Bạch và ba cây cọc chứng tích lịch sử. Tòa Kỷ vật nhằm liên tưởng niệm về trận chiến Bạch Đằng (938).

Tiếp vào là Tòa chính điện (Gồm Đại bái và Hậu cung) liền theo chiều dọc. Hai bên là hai lối nhỏ đi vào.

- Tòa Đại bái: có Hương án lớn, hai bên phía sau đặt hai Tượng quan tướng. Hai pho tượng võ quan: Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận, là hai tùy tướng của Ngô Quyền. Tượng đều chạm gỗ, sơn thếp truyền thống. Nghệ nhân tạc “giống nhau”: Cùng trang phục: mũ, quần/ áo, giày, binh khí; cùng tư thế đứng cầm binh khí, tay để ngang ngực. Có lẽ vì hai vị này đều là tùy tướng của Ngô Quyền, đều có công trong trận Bạch Đằng, và có lẽ khi tạc tượng nghệ nhân không biết được chân dung của từng vị? nên tạc cùng một diện mạo. Tượng hai vị tướng đặt đăng đối hai bên sau Hương án tòa Đại bái của Hậu cung. Ta xác định “danh tính” từ vị trí đặt tượng theo quan niệm phong thủy. Bên Tả là: Nguyễn Tất Tố (đánh thủy), bên Hữu là Đào Nhuận (đánh bộ). Theo truyền thuyết dân gian: “Để chuẩn bị cho trận chiến Bạch Đằng, Ngô Quyền đã tuyển mộ 30 người làm “Thần tử chi binh” xông pha chiến trận. Tiêu biểu cho tấm gương dũng cảm là Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận (người làng Gia Viên – Hải Phòng). Đã dẫn đầu 38 chàng trai, tự võ trang xin theo Ngô Quyền đánh giặc, trở thành  tướng trẻ, tài ba lập công trong trận Bạch Đằng (938). Khi Ngô Quyền họp các tướng để bàn kế hoạch đánh giặc. Nguyễn Tất Tố nói: “Tôi tuy bất tài cũng gọi là am hiểu thủy chiến, xin đem 30 chiếc thuyền đến thẳng trại giặc chém. đầu Hoằng Tháo đem về nộp dưới trướng”. Nguyễn Tất Tố được Ngô Quyền giao trách nhiệm đảm nhận 20 chiếc thuyền loại nhỏ 12 mái chèo ra khiêu chiến, dụ giặc. Đội quân cuả Nguyễn tất Tố đều là dân vùng sông nước, là những chiến sĩ gan dạ tinh nhuệ, nhận lệnh đem thuyền chiến mai phục sẵn ở các đám sú vẹt và các cồn gò ngoài cửa biển Bạch Đằng đợi giặc. Khi thủy triều lên các chiến sĩ  linh hoạt dùng thuyền nhẹ, vận động nhanh, ra khiêu chiến nhử giặc vào qua bãi cọc, nơi trận địa ta mai phục. Trong trận này, Ngô Quyền cử Đào Nhuận đem 1000 quân cung nỏ, bố trí mai phục hai bên bờ sông Bạch Đằng. Quân Nam Hán hiếu thắng cậy quân đông thuyền lớn, tiến quân đuổi đánh quân ta, lọt sâu vào trận địa của ta bày sẵn. Khi thủy triều xuống, làm thuyền của quân Nam Hán tiến chậm hẳn. Bỗng tiếng pháo lệnh của Ngô Quyền nổ vang,  báo cho quân ta tiến đánh. Quân thủy của Nguyễn Tất Tố đang vờ tháo lui dụ giặc đuổi theo, thì bất thần quay lại đánh. Thuyền quân Nam Hán do Hoằng Tháo sững lại, ùn ùn giữa sông. Lợi dụng gió xuôi và thuận dòng nước, thủy của Nguyễn Tất Tố quật lại đánh chặn quân địch. Các đoàn thuyền chiến trực sẵn của quân Việt dũng mãnh từ trong nhánh sông Khoái, sông Giá tiến ra. Trên bờ quân mã/ bộ của Đào Nhuận cũng liền xông lên, dùng cung nỏ bắn như mưa vào giặc. Hai tướng Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận phối hợp, thanh la bào trưởng đồng khua vang. Binh pháp “hiệp đồng  Thủy/ Bộ chiến” của Ngô Quyền phát huy triệt để. Quân giặc bị đánh bất ngờ, không kịp trở tay. Chúng quay thuyền rút chạy đã vướng  vào cọc bịt sắt nhọn, thuyền vỡ, bị đắm  quân chết đuối, chết trận thiệt hại vô kể.  Trước sự tấn công mãnh liệt của quân ta khiến trăm vạn thủy quân Nam Hán bị tiêu diệt hoàn toàn, thái tử Hoằng Tháo bị giết chết. Trận Bạch Đằng (938) kết thúc thắng lợi. Ý chí xâm lược của phương Bắc bị đè bẹp. Chiến thắng Bạch Đằng vang dội làm rạng danh Quôc sử”. Để tưởng nhớ nhân dân lập đền thờ Ngô Quyền và các tướng sĩ (là Từ Lương Xâm). Trong Từ, tạc tượng thờ Ngô Quyền, và tượng hai tướng đánh trận. 

- Tòa Hậu cung chính điện: Trong cung cấm đặt tượng “Ngô Vương Thiên Tử” (chạm gỗ, sơn son thếp vàng), có Hoành phi đề cao tôn vinh, câu đối ca ngợi Đức Vương. Tượng “Ngô Vương Thiên Tử” dáng ngồi đường bệ, nghiêm nghị trên ngai Rồng. Đầu đội vương miện, nổi hình đôi rồng chầu. Hai bên tay ngai nhô ra hai đầu Rồng. Chân đi giày đỏ, Hoàng bào thếp vàng lộng lẫy, phía trước nổi hình Rồng. Gương mặt đức vương mắt sáng tinh anh; Tai dài như tai Phật; mày, râu, dung mạo võ tướng oai phong. Tay trái đặt úp trên đùi, tay phải ngửa ra phía trước như đang thiết triều. Tạo nên Thần tượng Ngô Vương Thiên Tử của Từ cả. Pho tượng được tạo tác sớm nhất so với các tượng ở các di tích Đền/ Miếu/ Đình thờ Ngô Quyền ở Hải Phòng có tạc tượng ngài (2).

Các