Các nhân vật trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Kỳ II)

Thứ hai - 27/05/2019 18:04

HNVN xin giới thiệu tiếp bài tổng hợp các nhân vật trong tập sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm của Trần Văn Giáp.
 
n
Hình minh họa

59. Hương Hải thiền sư 香海禅師 (1631-1718) tục gọi là Tổ Cầu, gốc người làng Áng Độ, tổ 4 đời là Trung Lộc hầu theo Nguyễn Hoàng vào lập nghiệp ở xã Bình Yên Thượng phủ Thăng Hoa, Quảng Nam. Năm 18 tuổi đậu hương tiến, làm tri phủ Triệu Phong được 3 năm thì từ quan ra ngọn núi Tiên Bút La ở Cù Lao Chàm làm am nhỏ để tu Phật. Ông có tài chữa bệnh nên được chúa Nguyễn Phúc Hiền [chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần] mời về cung. Trong thời gian ở đây có giao lưu với Gia Quận công (người làng Đoan Bái xứ Kinh Bắc tướng nhà Trịnh vào đánh Quảng Nam bị bắt làm tù binh, được tha dùng vào việc dạy học ở Thuận Hóa) nên chúa Nguyễn nghi ngờ tra hỏi rồi đưa về Quảng Nam, nhưng ông cùng 50 đệ tử vượt biển ra Bắc vào năm 1682, sau đó chúa Trịnh Tạc cho đón thiền sư về Thăng Long cho tu ở chùa Nguyệt Đường. Thiền sư có dâng cho chúa Trịnh bản đồ sơn thủy lộ trình hai xứ Quảng Nam và Thuận Hóa, được chúa ban thưởng hậu. Có công chú giải nhiều bản kinh Phật (tr.207 T2).
 
60. Vũ Phạm Hàm 武范咸(1864-1906) hiệu Thư Trì, người làng Đôn Thư huyện Thanh Oai, Hà Đông. Dòng dõi nhà nho thanh bạch, được quan đốc học Vũ Nhự  nuôi và dạy dỗ. Năm năm sau Vũ Nhự vào làm quan trong triều ở Huế, ông theo học Nam Ngư Phạm Hi Lượng. Năm Kiến Phúc Giáp Thân (1884) thi hương đậu giải nguyên, năm sau thi Hội đậu hội nguyên và đình nguyên đậu thám hoa, được bổ đốc học Hà Nội sung Đồng văn quán. Sau làm đến Án sát Hải Dương, bị bệnh mất ở quê nhà. Có Mộng Hồ gia tập, v v (tr.314 T1).

61. Lê Trọng Hàm 黎仲咸 tự Quốc Ninh, hiệu Đồng Giang, Nam Á dư phu, Nam sử thị, người làng Hội Khê Ngoại, huyện Giao Thủy, Nam Định, soạn Minh Đô sử (tr.176 T1).

62. Nguyễn Công Hãng 阮公沆 (1680-1732) tự Thái Thanh hiệu Tĩnh Am người làng Phù Chẩn  huyện Đông Ngàn (Từ Sơn) Bắc Ninh. Đậu TS năm 1700 Canh Thìn Chính Hòa 21, làm quan Tham tụng, Lại bộ thượng thư tước Tường Quận công. Từng đi sứ sang TQ. Sau bị dèm pha bị giáng làm Thừa chánh sứ Tuyên Quang, buộc phải tự tử. Đến đời Cảnh Hưng được truy phục chức cũ. Có Tinh sà thi tập làm khi đi sứ (tr.92 T2).[con cả Nguyễn Công Hãng là Nguyễn Phúc Thắng chạy về Mỹ Độ (Bắcv Giang) cải sang họ Ngô]

63. Nguyễn Thượng Hiền 阮尚賢(1866-1925) tự Đỉnh Thần hiệu Mai Sơn, người làng Liên Bạt huyện Sơn Lăng (Ứng Hòa), Hà Nội. Ông là con thượng thư Nguyễn Thượng Phiên, vợ ông là con gái Tôn Thất Thuyết. Đậu HG năm 1892  Thành Thái 4, làm Quốc sử quán toản tu, sau làm Đốc học Ninh Bình, Nam Định. Ông bỏ chức trốn sang TQ hoạt động cách mạng, viết sách báo hô hào chống Pháp. Ông mất ở Hàng Châu (TQ) ngày 25-12-1925. Có Mai Sơn ngâm thảo, vv (tr.168 T2).

64. Trần Công Hiến 陳公憲 (?-1817) người làng Trương Nghĩa, Quảng Ngãi. Năm 1793, ông vào yết kiến Nguyễn Ánh ở Thị Nại có quân công được phong tổng nhung cai cơ, sau giữ chức trấn thủ Hải Dương tước Ân Quang hầu. Trong thời gian làm trấn thủ Hải Dương ông có biên soạn và cho khắc in một số sách về lịch sử và địa lý (tr.53 T2).

65. Ngô Thì Hiệu 吳时傚(1791-1830) tự Tử Thị hiệu Dưỡng Hiên thụy Trang Nghị tiên sinh, biệt hiệu Hoa Lâm tản nhân. Ông tuy chỉ là Quốc tử giám sinh, nhưng có nhiều thi văn, làm nhiều sách: Lạng hành kí sự, Kim ngọc nguyên âm là thi tuyển các danh gia của cụ Ngọ Phong, Quan ngư ký, Khôn trinh lục, Nam dư thi tập, Đại Man sự tích, Dạ Trạch phú ký v v (tr.305 T1).

66. Nguyễn Hoản (1713-1791), người làng Lan Khê, huyện Nông Cống Thanh Hóa, thi hương đậu thủ khoa, đậu hội nguyên tiến sĩ, Cảnh Hưng 4 (1743), năm 1767 làm Lại bộ thượng thư kiêm  thị Kinh diên tri Quốc tử giám, Đông các, Hàn lâm viện… được phong Hoản Quận công. Năm Đinh Dậu Cảnh Hưng 38 (1777) thăng Thiếu phó, Quốc lão tham dự triều chính, được về hưu rồi lại triệu ra làm Tham tụng, Phụ quốc công thần (tr.100 T1).

67. Lê Thúc Hoạch 黎叔雘 tự Kê Nham hiệu Song Đình, người làng Nhân Mục huyện Thanh Trì. Ông là con Lê Đình Diên hoàng giáp thời Tự Đức. Thuở trẻ theo cha học khi cha làm đốc học. Không rõ ông có đi thi và làm quan hay không. Ông thoát ra ngoài vòng thế tục, không sa vào học hành thi cử mà chuộng sự học mang lại lợi ích cho dân chúng. Năm 1877, ông làm sách Nông sự toàn đồ cốt đem lại thực tế cho xã hội. 25 năm sau, năm Nhâm Dần Thành Thái 14 (1902) ông làm sách chí danh đồ thuyết: Ông lấy Kinh thi ra lược biên tên các loài chim muôn cây cỏ, rồi tham khảo các sách của TQ thích nghĩa rõ ràng từng loại, từng tên lại vẽ hình từng vật và có chua âm giải nghĩa (tr.392 T1).

68. Nguyễn Sư Hoàng 阮师黄 nguyên tên Nguyễn Quý Toán tự Khánh Mã hiệu Trúc Đình, sau đổi Sư Hoàng tự Thu Hoa, người làng Bình Vọng huyện Thượng Phúc, nay là Thường Tín, đậu nhiều khoa tú tài khi còn trẻ, mãi đến Thành Thái Bính Ngọ (1906) mới đậu cử nhân trường Hà Nam, ở nhà dạy học, không ra làm quan. Có Đại Việt đỉnh nguyên phật lục, Vân Trai Nguyễn thị gia phả, v v (tr.280 T1).

69. Phạm Đình Hổ 范廷琥 (1769-1839) tự Tùng Niên và Bỉnh Trực hiệu Đan Sơn và Đông Dã Tiêu, người làng Đan Loan huyện Bình Giang, Hải Dương. Thời Tây Sơn ông ẩn náu chốn thôn quê chuyên đọc sách và nghiên cứu lịch sử. Năm 1821, Minh Mạng Bắc tuần nghe tiếng ông mời ra bổ vào HLV chức Hành tẩu, được ít lâu ông xin thôi. Năm Minh Mạng 7 (1826) ông lại được mời ra bổ vào HLV thừa chỉ, QTG Tế tửu, nhưng năm sau ông lấy cớ đau ốm xin về. Sau đó ông ra làm tế tửu khá lâu thăng đến hàm thị giảng học sĩ. Sau khi về hưu ông mới mất. Ông trứ thuật khá nhiều hàng vài chục đầu sách, tài liệu trong đó có Lê triều đại điển, v v (tr.263 T2).

70. Nguyễn Trọng Hợp 阮仲合 (1834-1902) tên cũ Nguyễn Huyên tự Trọng Hợp tự Quế Bình Tử hiệu Kim Giang, người làng Kim Lũ huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông là học trò Nguyễn Văn Lý và Vũ Tông Phan. Đậu TS năm 1865 Ất Sửu Tự Đức 18, làm quan đến chức Văn minh điện đại học sĩ, cơ mật viện đại thần, Bắc Kỳ Kinh lược sứ, tước Vĩnh Trung tử. Có Kim Giang thi tập và hàng chục tác phẩm khác (tr.161 T2).

71. Nguyễn Húc 阮旭 (TK XV) tự Di Tân hiệu Cúc Trang người Kệ Sơn huyện Đông Triều, Quảng Ninh, làm quan đến tri phủ. Có Cưu đài tập (tr.83 T2).

72. Đàm Thận Huy 譚慎辉 (1463-1527) hiệu Mặc Trai, người làng Ông Mặc (Hương Mạc), nay Từ Sơn Bắc Ninh. Năm 1490 Hồng Đức 21, đậu TS. Thành viên Hội Tao đàn. Lễ bộ trượng thư tri Chiêu văn quán tú lâm cục kiêm HLV thị độc chưởng HLV sự gia Thiếu bảo, Nhập thị Kinh diên tước Lâm Xuyên bá. Năm 1510 thăng thượng thư bộ Hình, đi sứ. Năm 1522 Lê Chiêu Tông chạy lên Sơn Tây, giao cho ông cầm quân chống Mạc Đăng Dung ở Bắc Giang. Sau khi Chiêu Tông thất bại năm 1527, ông uống thuốc độc tuẫn tiết ở Yên Thế. Có Mặc Trai thi tập (tr.80 T2).

73. Lê Văn Hưu 黎文休(1230-1322), người làng Phủ Lý huyện Đông Sơn, nay là thôn Phủ Lý Trung xã Thiệu Trung huyện Thiệu Hoá, Thanh Hóa (mất ngày 23/3 /Nhâm Tuất=9/4/1322). Đậu Bảng nhãn năm Thiên Ứng Chính Bình 16 (1247) đời Trần Thái Tông, ông là thầy dạy học của Trần Quang Khải (theo An Nam chí Lược của Lê Tắc). Ông được sung chức Hàn lâm học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu, được vua giao cho soạn bộ Sử ký. Bộ sử này chép từ đời Triệu Vũ Đế (207 Tcn) đến đời Lý Chiêu Hoàng (1221 Cn). Năm Thiệu Long 15, mùa xuân tháng giêng (2/1272) ông làm xong bộ sách ấy đặt tên là Đại Việt sử ký dâng lên. Vua hạ chiếu khen thưởng. Sách không còn, chỉ còn vài đoạn trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (tr.36 Tập 1). 

74. Vũ Hữu 武有(1443-1530) hiệu Ước Trai, người làng Mộ Trạch huyện Đường An (Bình Giang) Hải Dương). Năm Quý Mùi Quang Thuận 4 (1463) đậu Hoàng giáp. Đời Lê Hiến Tông (1497-1504) ông làm đến chức Lễ bộ thượng thư tước Tùng Dương hầu. Năm 1527 Thống Nguyên Đinh Hợi đời Cung Hoàng, ông cùng Phan Đình Tá phụng mệnh đi phong Mạc Đăng Dung làm An Hưng vương. Ông là người hạng nhất xu phụ họ Mạc (Đăng khoa lục bị khảo Hải Dương, tờ 11) sau làm quan với họ Mạc. Sách Công dư tiệp ký, tác giả Vũ Phương Đề là con cháu ông, khi viết bản truyện đã hết sức bao che cho Vũ Hữu (tr.387 T1).

75. Lê Hy 黎禧(1648-1702) tên hiệu Trạm Khê, người xã Thạch Khê, Đông Sơn, Thanh Hóa. Năm Giáp Thìn Cảnh Trị 5 (1667) đỗ đồng tiến sĩ mới 19 tuổi, triều đình cho là còn ít tuổi cho phép ở nhà học thêm. Ông làm nhà trên bờ Hồ Tây chuyên đọc sách làm thơ, chúa Trịnh nghe tiếng khen ngợi. Ông có được cử đi sứ TQ, sau làm đến Binh bộ thượng thư, tước Lai Sơn bá. Năm Chính Hòa 18 (1697) được Lê Hy Tông sai toản tu quốc sử và soạn sách Bản kỷ tục biên (tr.88 T1).

76